Đau Khớp, Thoái Hóa Khớp, Bệnh Viêm Khớp, Dau Khop, Thoai Hoa Khop, Benh Viem Khop


Hỏi đáp

Một vài câu hỏi thường gặp về bệnh viêm khớp

Hỏi: Tôi vừa phát hiện ra mình bị viêm khớp. Điều này có đồng nghĩa với việc tôi phải từ bỏ các hoạt động thể chất?

Trả lời: Bệnh khớp rất khác nhau ở mỗi người. Hãy hỏi bác sĩ để xác định cẩn thận loại và mức độ bệnh khớp của bạn. Sau đó sử dụng thông tin này để đưa ra quyết định tốt nhất cho sở thích và hoạt động của bạn.

Mức độ hoạt động sẽ tùy thuộc vào khớp nào bị ảnh hưởng và mức độ nặng của bệnh. Nếu bạn bị tổn thương khớp, các hoạt động gây căng khớp hoặc đòi hỏi vận động liên tục sẽ làm cho bệnh của bạn trầm trọng hơn.

Tuy nhiên, nếu chỉ bị tổn thương khớp nhẹ và hầu hết các triệu chứng có liên quan đến dây chằng, gân và cơ xung quanh khớp, một chương trình tập luyện nhẹ nhàng có thể cải thiện bệnh khớp. Đảm bảo có các bài tập co giãn và làm chắc cơ trong chương trình tập luyện của bạn.


Hỏi: Tôi có thể làm gì để bảo vệ khớp nếu tôi bị viêm khớp?

Trả lời: Các hoạt động gây áp lực đột ngột lên khớp bị viêm - như chạy bộ hoặc chơi tennis - dễ làm các triệu chứng viêm khớp trầm trọng hơn, tăng sưng và viêm. Tập luyện làm khỏe cơ sẽ bảo vệ khớp, giảm áp lực và tổn thương khớp. Thí dụ, tập chắc các cơ ở trước và sau đùi giúp bảo vệ khớp gối và háng; bạn có thể đi bộ với nhịp độ đi thoải mái và một đôi giầy vừa vặn. Nếu khớp quá đau hoặc tổn thương không cho phép các hoạt động như đi bộ, thì bơi hoặc các bài tập dưới nước khác có thể là lựa chọn tốt hơn giúp bạn năng động và rắn chắc. Bác sĩ có thể hướng dẫn bạn một số bài tập để tăng sức bền cho cơ mà không lạm dụng khớp.

hoi-dap


Hỏi: Tôi bị viêm khớp và đầu gối tôi tê cứng lại sau khi ngồi lâu. Tôi thấy sẽ ít bị cứng hơn nếu tôi đứng dậy và đi lại xung quanh. Liệu có tốt hơn nếu tôi luôn luôn vận động?

Trả lời: Nhiều người viêm khớp bị tê cứng sau khi ngồi hoặc nghỉ ngơi, đặc biệt nếu họ sử dụng khớp nhiều trước khi ngồi hoặc nghỉ. Hầu hết những người viêm khớp dạng thấp bị tê cứng sau khi nghỉ ngơi, nhất là vào buổi sáng. Vận động sẽ làm giảm bớt một số triệu chứng. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bạn nên sử dụng quá mức khớp viêm. Với viêm xương khớp mạn tính, nghỉ ngơi và chăm sóc khớp tốt sẽ làm giảm cứng khớp.

Nếu bạn phải ngồi lâu, thường xuyên điều chỉnh tư thế để tránh hoặc giảm bớt tê cứng. Thí dụ, xoay đầu sang một góc khác, di chuyển vị trí của cánh tay, co và duỗi chân. Các vận động nhẹ này giúp ngăn ngừa cứng khớp quá mức.


Hỏi: Các ngón tay của tôi không thể sử dụng linh hoạt. Có cách nào khắc phục được?

Trả lời: Tập luyện có thể giúp giữ bàn tay và ngón tay linh hoạt trong một phạm vi nào đó, đặc biệt ở giai đoạn sớm của bệnh trước khi các khớp bị tổn thương quá nhiều.

Khi các ngón tay bị co cứng và khớp bị đau, tập luyện tay có thể làm giảm sự khó chịu. Bác sĩ cũng có thể khuyên bạn điều trị lý liệu pháp giúp duy trì sự linh hoạt và sức bền nói chung. Bạn cũng nên cân nhắc việc sử dụng các thiết bị hỗ trợ cho các công việc hàng ngày, như dùng cái mở hộp để đỡ phải xoay tay, móc dây mỏng để giữ khuy và cài vào khuyết áo, hộp đựng quân bài khi chơi bài,…

 

Hỏi về những triệu chứng của bệnh rối loạn tuần hoàn não - Cách phòng bệnh

Hỏi: Tôi rất hay bị đau đầu, đau nhiều nữa đầu trái, kèm theo các biểu hiện buồn nôn, chóng mặt, nhiều khi bị ngất, nhất là khi ngồi làm việc bằng máy tính thấy rất mệt mỏi và ói. Gần đây thị lực giảm và nhức mỏi mặt Tôi đã đi khám và điện não bác sĩ kết luận tôi bị chứng rối loạn tuần hoàn não. Tôi uống thuốc nhưng không thấy đỡ vẫn mệt, đau đầu nhất là khi trời nắng. Tôi xin hỏi bác sĩ về những triệu chứng của bệnh rối loạn tuần hoàn não, bệnh này có nguy hiểm không, cách điều trị như thế nào ? có chữa hết được không ? Tôi xin chân thành cảm ơn!

(Đinh Thị Thanh Thảo)

Trả lời: 

Rối loạn tuần hoàn não hay còn gọi là thiểu năng tuần hoàn não, ở giai đoạn đầu có thể bù trừ, sau đó chuyển sang giai đoạn mất bù với cơn thiếu máu não thoáng qua. Những biểu hiện như mỏi tay chân ở một bên người, có cảm giác tê bì, co giật ở chi, hoặc đang nói chuyện người bệnh dừng lại không nói được, hay đột nhiên có người đi ngoài đường không nhớ đường về nhà... Những rối loạn này nếu không được điều trị sớm sẽ tiến triển nặng hơn nếu trong người có sẵn các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, tiểu đường, tim mạch...

Tai biến mạch máu não là biểu hiện của rối loạn tuần hoàn não cấp tính, là loại bệnh vừa có tính kinh điển vừa có tính chất thời sự của y học trên toàn thế giới. Những biểu hiện thường thấy là sự đau đầu dữ dội, hôn mê, nôn và buồn nôn, liệt chi, méo tiếng, mất tiếng, xuất huyết não (ở các vị trí đặc biệt như chảy máu não thất, chảy máu tiểu não), nhồi máu não... người bệnh rất dễ tử vong trong trường hợp này.

Rối loạn tuần hoàn mạn tính là tình trạng thiếu máu não mạn tính với các bệnh cảnh sa sút trí tuệ ở người già, đau đầu, chóng mặt...

Rối loạn tuần hoàn não còn được chia theo vị trí tổn thương như ở vùng não bán cầu, vùng trán, vùng thái dương, vùng chẩm, vùng thân não, tiểu não...

 Các rối loạn tuần hoàn não ít nhiều đều có phù não, gây ra các rối loạn về tâm lý, như người bệnh dễ nóng giận, buồn vui, hay quên, thậm chí không gọi tên được người thân ngồi trước mặt. Các rối loạn khác có thể gặp nữa là rối loạn thần kinh thực vật (cảm giác nóng bừng bừng, toát mồ hôi, nghẹt thở, lạnh các ngón chi, nổi da gà...), rối loạn kích thích, rối loạn đại tiểu tiện...

 

Những yếu tố dẫn đến rối loạn tuần hoàn não

Các bệnh mạn tính là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra chứng bệnh này, đó là bệnh tăng huyết áp, xơ cứng mạch não, tình trạng lắng đọng mỡ, đường trong máu, các bệnh van tim, rối loạn nhịp tim, suy thận mạn...

Sự thay đổi về thời tiết, khí hậu, thời sinh học cũng là một yếu tố nguy cơ của rối loạn tuần hoàn não. Nghiên cứu của một số bác sĩ thần kinh học ở Việt Nam cho thấy tai biến mạch máu não phát triển vào tháng 8, tháng 12 và tháng 1 tại Cần Thơ, khu vực đồng bằng sông Cửu Long; ở Hà Nội thấy tai biến mạch máu não xảy ra vào tháng 2, 3 và 10, 11 (liên quan đến mùa lạnh, gió mùa đông bắc). Về thời sinh học, con người có 2 thời khắc dễ gặp rủi ro về tuần hoàn não nhất là vào thời điểm từ 4-5 giờ sáng và 5-6 giờ chiều.

Các yếu tố xã hội: Đó là thói quen, tập quán sinh hoạt, kiến thức phổ thông và bệnh tật. Hiện nay có nhiều người không biết số đo huyết áp của mình, một số lại rất thờ ơ với hiện tượng đau đầu, mỏi chi. Tình trạng dùng rượu, bia, nghiện thuốc lá là điều kiện thuận lợi cho chứng rối loạn tuần hoàn não. Xu hướng thừa cân, béo phì, ít vận động làm gia tăng bệnh tăng huyết áp, tiểu đường, tim mạch tác động xấu đến rối loạn tuần hoàn não. Những người dưới 40 tuổi cũng có thể bị mắc bệnh do stress từ áp lực công việc, xã hội nặng nề.


Phòng bệnh như thế nào?

Những người có biểu hiện bệnh cần được đi khám sức khỏe kịp thời, những người có nguy cơ cần được đi thăm khám sức khỏe định kỳ, điều này không chỉ phát hiện và điều trị sớm rối loạn tuần hoàn não mà còn nhiều căn bệnh nguy hiểm khác. Việc chẩn đoán bệnh phải được đánh giá qua hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng kết hợp với các phương tiện thăm dò chức năng thần kinh. Hiện nay có rất nhiều loại thuốc dùng cho bệnh cảnh này nhưng đây là một bệnh cảnh có thể liên quan đến nhiều bệnh khác, do vậy việc điều trị phải do bác sĩ chuyên khoa thần kinh chỉ định và phải tuân theo những chỉ định đó thì bệnh mới tiến triển tốt được.

Nhận thức rõ những yếu tố nguy cơ là yêu cầu quan trọng cho việc phòng bệnh, không nên hút thuốc lá, sử dụng nhiều bia, rượu, cần vận động cơ thể hằng ngày, kiểm soát đường máu, tránh các yếu tố gây stress. Đối với người cao tuổi và những người mang sẵn nhiều nguy cơ nên khám sức khỏe thường xuyên, thận trọng với những giờ đỉnh của huyết áp nhất là vào buổi sáng.

Chúc bạn sức khỏe!

Câu hỏi: Tôi hay bị hồi hộp đánh trống ngực, đó có phải là bị bệnh tim mạch không? Xin cho biết những biểu hiện thường gặp của bệnh tim mạch?

 

Trả lời:

Hồi hộp đánh trống ngực là một triệu chứng không đặc hiệu xuất hiện khi có bất thường về nhịp đập của quả tim. Các bất thường về nhịp đập của quả tim như ngoại tâm thu, bỏ nhịp, nhịp tim nhanh hoặc nhịp tim không đều. Để chẩn đoán chính xác liệu có bất thường về nhịp tim hay không, người bệnh cần được làm điện tim đồ hoặc điện tim đồ ghi trong thời gian 24 giờ. Một số nguyên nhân có thể gây ra tình trạng hồi hộp đánh trống ngực như: căng thẳng tâm lý, cường tuyến giáp, tác dụng phụ của một số loại thuốc, bệnh lý động mạch vành, bệnh lý cơ tim hoặc bệnh lý van tim. Đôi khi thầy thuốc không tìm được nguyên nhân gây ra hồi hộp đánh trống ngực, lúc đó cần hỏi xem người bệnh có dùng chất cafein như coffee, chè, cacao, chocolate, soda… hay không, mặt khác cần hỏi về tiền sử sử dụng thuốc như thuốc nhỏ mũi…

 Một số biểu hiện thường gặp của bệnh tim mạch được mô tả sau đây:

-   Khó thở: là cảm giác khó khăn khi tiến hành động tác thở. Nếu bạn thấy xuất hiện khó thở không tương xức với mức độ hoạt động thể lực, khó thở xuất hiện đột ngột bạn cần phải đi khám bác sỹ.

-   Đau thắt ngực: bất kì cơn đau nào như bóp nghẹt ở giữa ngực kéo dài hơn hai phút đều có thể là biểu hiện của bệnh lý tim mạch. Ban cần gọi điện cho bác sỹ và đi khám bệnh ngay lập tức.

-   Ngất: một số rối loạn nhịp tim hoặc bệnh lý mạch cảnh… có thể gây ra ngất. Cần cấp cứu người bệnh bị ngất tại chỗ trước khi chuyển người bệnh tới bệnh viện.

-   Phù: thường gặp phù mắt cá chân do các bệnh lý tim mạch. Cần đưa người bệnh đi khám để xác định nguyên nhân gây ra phù chân.

-   Tím tái: là hiện tượng đổi màu phớt xanh của da và niêm mạc do máu không được bão hòa oxy đầy đủ. Tím tái thường thấy ở đầu các ngón tay và quanh môi. Tương tự như phù, tím tái là một dấu hiệu hơn là một triệu chứng của bệnh tim mạch.

-   Đau cách hồi: là một dấu hiệu khá đặc hiệu của bệnh động mạch chi dưới. Người bệnh có biểu hiện mỏi chân và đau hoặc chuột rút khi đi lại, sau khi nghỉ thì đỡ đau chân. Độ dài, quãng đường đi hoặc mức độ đau, thời gian hồi phục phản ánh mức độ nặng nhẹ của bệnh tắc động mạch chi dưới. Cần đưa người bệnh đi khám để điều trị kịp thời.

Câu hỏi: Các biểu hiện cảnh báo bệnh tim mạch cần cấp cứu là gì? Xin cho biết cách phát hiện và đối phó khi gặp tình huống đó?

 

Trả lời:

Một số biểu hiện cảnh báo bệnh lý tim mạch cần cấp cứu như sau:

-   Đau thắt ngực: bệnh nhân đau ngực dữ dội, cảm giác bị bóp nghẹt trong lồng ngực, vị trí cơn đau thường ở phía sau xương ức, đau lan lên vai trái, mặt trong cánh tay trái hoặc lan ra sau lưng… Đây là biểu hiện nghi ngờ bệnh nhồi máy cơ tim. Khi gặp người bệnh có biểu hiện triệu chứng như trên, bạn cần gọi người giúp đỡ đồng thời gọi cấp cứu 115 để họ xử trí ban đầu và đưa người bệnh tới bệnh viện, nếu không gọi được cấp cứu 115, bạn cần đưa người bệnh tới bệnh viện ngay lập tức, không để người bệnh tự đi khám.

-   Các biểu hiện ngừng tuần hoàn: người bệnh đột ngột ngất xỉu, mất phản ứng xung quanh, gọi hỏi không biết, ngừng thở, tím tái toàn thân, đôi khi có biểu hiện co giật hoặc mềm nhũn, có thể xuất hiện đại tiểu tiện không tự chủ. Bạn cần gọi người hỗ trợ và gọi cấp cứu 115 ngay lập tức. Đồng thời bạn cần ép tim – thổi ngạt cho người bệnh ngay. Tư thế ép tim như sau: người cấp cứu quỳ bên cạnh nạn nhân. Đặt hai tay của người cấp cứu (bàn tay phải trên mu bàn tay trái) lên 1/3 dưới xương ức của nạn nhân, ấn mạnh đồng thời cả hai tay cho lồng ngực nạn nhân xẹp xuống. Bạn cần ép tim liên tục thậm chí không cần động tác hà hơi thổi ngạt nếu bạn một mình cấp cứu nạn nhân.

-   Các dấu hiệu đột quỵ như đột ngột tê hoặc yếu nửa người (một bên tay chân), ngất hoặc hôn mê, mất hoặc rối loạn khả năng nói, rối loạn thị giác, đột ngột mất thăng bằng và phối hợp các động tác, đau đầu dữ dội, nôn không rõ nguyên nhân. Nếu người bệnh có một trong các triệu chứng trên, cần đưa người bệnh tới ngay bệnh viện hoặc phòng cấp cứu gần nhất.

-   Khó thở: người bệnh đột ngột khó thở dữ dội, vã mồ hôi. Cần gọi người cấp cứu và gọi cấp cứu 115 ngay lập tức. Đồng thời, bạn cho người bệnh nằm đầu cao, cho người bệnh thở oxy nếu có.

-   Đau đột ngột chân hoặc tay: Người bệnh đi đau đột ngột chân hoặc tay, đau dữ dội. Chân hoặc tay đau lạnh, nhợt hơn so với bên đối diện. Đây có thể là biểu hiện tắc động mạch cấp tính của chân hoặc tay. Khi gặp người bệnh có biểu hiện này, bạn cần đưa người bệnh đi cấp cứu ngay lập tức để phẫu thuật lấy cục huyết khối trong lòng mạch ở chân hoặc tay của người bệnh.

Câu hỏi: Những nguyên nhân nào gây ra bệnh tim mạch?

 

Trả lời:

Có nhiều yếu tố trong cuộc sống được chứng minh làm tăng khả năng xuất hiện và tiến triển bệnh lý tim mạch. Những yếu tố này được gọi là yếu tố nguy cơ của bệnh lý tim mạch. Các yếu tố đó là:

-   Hút thuốc: hút thuốc là hoặc hút thuốc lào đều là những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh lý động mạch vành, tăng huyết áp, bệnh động mạch ngoại biên…

-   Ít hoạt động thể lực: lười hoạt động thể lức làm tăng khả năng xuất hiện bệnh tăng huyết áp, bệnh động mạch vành…

-   Thừa cân: thừa cân là yếu tố nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh động mạch vành. Bạn cần duy trì cân năng ở mức hợp lý.

-   Căng thẳng (stress): các căng thẳng trong cuộc sống, các stress tâm lý đều được chứng minh làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch.

-   Tăng cholesterol máu: tăng cholesterol máu làm thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch, nó là yếu tố làm tăng khả năng mắc bệnh tăng huyết áp, bệnh lý động mạch cảnh, động mạch chủ, động mạch vành, động mạch chi dưới.

-    Tăng huyết áp: tăng huyết áp là kẻ giết người thầm lặng, nó là yếu tố nguy cơ làm xuất hiện và tiến triển bệnh lý động mạch vành, bệnh động mạch chủ, bệnh động mạch ngoại biên… Bạn cần điều trị tăng huyết áp theo phác đồ của bác sỹ tim mạch để làm giảm nguy cơ tiến triển bệnh lý tim mạch.

-   Đái tháo đường: bệnh lý này là yếu tố nguy cơ rất mạnh mắc các bệnh lý tim mạch như bệnh lý động mạch vành, bệnh động mạch cảnh, bệnh động mạch chủ và bệnh động mạch ngoại biên… Nếu bạn bị đái tháo đường, bạn cần tuân thủ điều trị bệnh này nghiêm ngặt để tránh biến chứng tim mạch.

-   Yếu tố gia đình: một số bệnh lý tim mạch như tăng huyết áp, bệnh lý cơ tim giãn, bệnh cơ tim phì đại, hội chứng Brugada có tính chất gia đình.

-   Tuổi: nam giới trên 55 tuổi hoặc nữ giới trên 65 tuổi có nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp.

-   Giới tính nam

 

Câu hỏi: Tầm quan trọng của DHA với sự phát triển của trẻ như thế nào?

DHA có tên gọi đầy đủ là Docosa Hexaenoic Acid - một acid béo thuộc nhóm omega-3.DHA cần thiết cho sự phát triển trí não, thị giác, tăng khả năng miễn dịch, giảm nguy cơ phát triển dị ứng của trẻ.

 


Trong hội thảo khoa học “chăm sóc trẻ từ 0 – 5 tuổi nền tảng cho sự phát triển toàn diện” vừa diễn ra tại Hà Nội, bác sĩ Trưởng khoa dinh dưỡng Viện nhi TW Lưu Mỹ Thục đã có phần trình bày về tần quan trọng của DHA đối với sự phát triển của trẻ, cũng tại đây, bác sĩ Thục đã chia sẻ với các bậc phụ hung cách phối hợp giữa các món ăn phù hợp với từng lứa tuổi của trẻ, giúp trẻ hấp thu DHA một cách tốt nhất để trẻ phát triển toàn diện hơn.

Nghiên cứu khoa học cho thấy, não bộ của trẻ phát triển nhanh nhất trong giai đoạn từ thai nhi đến 2 tuổi (đạt 80% trọng lượng não người trưởng thành) và sẽ gần như đạt 100% trọng lượng não người lớn khi bước vào tuổi thứ 6. 

DHA là 1 thành phần quan trọng hình thành cấu trúc màng tế bào và mô, có nhiều nhất trong não (97%). Khi trẻ dưới 2 tuổi, não cần một lượng lớn DHA để tập hợp quá trình suy nghĩ, lên kế hoạch và hoạt động cụ thể. Đây là nền tảng quan trọng cho quá trình học hỏi sau này của bé. 

GS.TS Peter Willatts, một chuyên gia hàng đầu về DHA đã từng đưa ra lời khuyên dành cho các bà mẹ mang thai và có con bé: cung cấp hàm lượng đúng DHA từ những năm tháng đầu đời  và trong suốt thời kỳ tuổi trẻ nhằm mang lại lợi ích lâu dài cho sự phát triển của trẻ. Tuy nhiên, rất ít các bà mẹ thực hiện khoa học việc cung cấp DHA trong khẩu phần ăn cho con.

DHA cần thiết cho sự phát triển trí não, thị giác, tăng khả năng miễn dịch, giảm nguy cơ phát triển dị ứng của trẻ. Ngoài ra, một số nghiên cứu lâm sàng thực hiện bởi những nhà khoa học nổi tiếng thế giới cũng làm rõ ảnh hưởng tích cực của DHA trong từng giai đoạn phát triển của trẻ như: khả năng xử lý vấn đề tốt hơn ở 9 tháng tuổi, tăng 7 điểm chỉ số phát triển trí tuệ ở 18 tháng tuổi, hệ hô hấp khỏe mạnh hơn khi trẻ được 3 tuổi và tăng 6 điểm IQ ngôn ngữ cho trẻ 4 tuổi… nếu trẻ được cung cấp hàm lượng đúng DHA từ sớm và liên tục.

Trẻ cần bổ sung DHA bao nhiêu và như thế nào?


DHA được bổ sung sớm và liên tục  sẽ mang lại lợi ích lâu dài cho sự phát triển của trẻ, song thực tế hàm lượng DHA trong thực đơn hàng ngày dành cho trẻ em ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam quá thấp so với mức khuyến cáo của WHO.

Do đó, hãy đa dạng khẩu phần ăn của trẻ, sử dụng nhiều loại thực phẩm giàu DHA như thủy hải sản, trứng, sữa, các loại hạt có dầu… Dầu cá có thể lựa chọn để bổ sung DHA, nhưng việc bổ sung này cần thật cẩn trọng. Bổ sung sữa bột với hàm lượng đúng DHA chính là nguồn cung cấp DHA an toàn, đơn giản và tối ưu.
 
Theo nghiên cứu của WHO/FAO, các bà mẹ mang thai và cho con bú cần bổ sung hàm lượng khoảng 200mg/ngày để có thể cung cấp đủ DHA cho trẻ ngay từ trong bụng mẹ. Đối với trẻ dưới 12 tháng tuổi, DHA ở hàm lượng 0,32% trong tổng axit béo, tương ứng 17mg/100kcal là tối ưu. Trẻ từ 1-6 tuổi thì cần được bổ sung DHA với hàm lượng từ 75mg/ngày (có thể tăng giảm tùy theo độ tuổi và cân nặng của trẻ).

Canxi đóng vai trò thế nào với bộ xương?

Canxi là loại vi chất quan trọng giúp cho bộ xương trở nên chắc khỏe và hạn chế nguy cơ xương bị gãy hoặc yếu.

Tuy nhiên điều này không có nghĩa là nên bổ sung tăng cường canxi càng nhiều càng tốt cho bộ xương. Mà ngược lại việc dư thừa hàm lượng canxi sẽ gây nên những tác dụng ngược và đặc biệt là gây hại cho thận, gây tiêu chảy và đau bụng, gây rắc rối xảy ra với tuyến giáp.
T rường hợp nếu trong máu của bạn có chứa quá nhiều canxi, sẽ dẫn đến triệu chứng hypercalcemia hay việc dư thừa canxi trong nước tiểu sẽ dẫn đến chứng bệnh hypercalciuria.

Tập luyện khiến xương phải đối mặt với nguy cơ bị gãy, tổn thương?

Trừ phi đó là khi bạn đang áp dụng một bài tập quá sức hoặc không thích hợp với cơ thể còn ngược lại tập luyện cũng có vai trò quan trọng không kém vitamin D và canxi.

Tập luyện sẽ hạn chế tối đa nguy cơ bị suy giảm hoặc thất thoát mật độ của bộ xương – là tiền nguyên nhân dẫn đến tình trạng xương bị yếu và dễ gãy.

Bên cạnh đó tập luyện còn giúp cơ bắp dẻo dai, hạn chế nguy cơ những cơn đau khớp, kéo dài “tuổi xuân” cho bộ xương.

Những bài tập có lợi cho bộ xương là bơi lội, đi bộ, leo núi, leo cầu thang, chơi tennis và tập nhảy.

Khi nào xương dễ gặp phải “nguy cơ” giòn, gãy?

Từ tuổi 30 trở về trước cơ thể sẽ sản sinh ra lượng tế bào xương dồi dào nhất và vì thế bộ xương sẽ ít có nguy cơ bị giòn, yếu hay gặp phải những tổn thương. 
Tuy nhiên, sau độ tuổi 30 mọi thứ sẽ thay đổi, các tế bào xương sẽ dần bị mất đi đồng nghĩa rằng sức khỏe của bộ xương sẽ bị giảm sút. Chính vì thế, bạn cần có kế hoạch chăm sóc sức khỏe cho bộ xương ngay từ khi bước vào độ tuổi băm chứ không phải đợi đến khi tiền mãn kinh.

Những ai dễ mắc bệnh liên quan đến xương khớp?

Những ngư ời dễ có nguy cơ bị tấn công bởi bệnh xương khớp như tuổi tác cao, giới tính, do gien di truyền, những người nghiện rượu, mắc các bệnh lý liên quan đến ung thư, tiểu đường, thận, khớp, gút, chế độ ăn uống và sinh hoạt nghèo nàn.